ORIGAMI - Nghệ thuật xếp giấy ở Nhật Bản

Origami là nghệ thuật gấp giấy hay nghệ thuật xếp giấy có xuất xứ từ Nhật Bản.   Chữ origami trong tiếng Nhật bắt nguồn từ hai chữ: oru là gấp hay xếp và kami là giấy. Origami chỉ được dùng từ 1880; trước đó, người Nhật dùng chữ orikata. Origami kết hợp những cách gấp đơn giản để biến miếng giấy hình chữ nhật (2 chiều), mà thường là hình vuông, thành những hình phức tạp (3 chiều), không cắt dán trong quá trình gập, đây cũng là xu hướng của origami hiện đại. Không giống như người ta thường nghĩ, các qui tắc origami truyền thống của Nhật Bản (bắt đầu từ khoảng triều Edo 1603-1867), lại ít nghiêm ngặt hơn origami hiện đại: giấy gấp có thể là hình tròn, tam giác, và có thể cắt dán trong quá trình gấp. Nghệ thuật xếp giấy Nhật Bản ra đời khi nào, các nhà khảo cổ cũng không có câu trả lời chính xác. Nhưng ai cũng hiểu rằng công nghệ sản xuất giấy từ Trung Quốc đã du nhập vào Nhật thế kỷ thứ 7. Sau sự du nhập ấy, người Nhật đã áp dụng và biến đổi nhiều phương pháp chế tạo cũng như nguyên liệu chế tạo giấy, hình thành hẳn một nền văn hóa giấy với vật liệu giấy phong phú, chất lượng cao (gấp mở nhiều lần không rách, mềm, bền và đẹp… Đó chính là loại giấy mà người Nhật vẫn tự hào có một không hai trên thế giới với cái tên “Washi”). Chính từ đó, nghệ thuật xếp giấy độc đáo Origami của Nhật Bản ra đời. Thuật xếp giấy đã có từ khoảng thế kỷ thứ 1 hay thứ 2 ở Trung Hoa. Sau đó, thuật xếp giấy này đã lan sang Nhật vào thế kỷ thứ 6 và dần dà trở thành một nghệ thuật độc đáo của xứ Nhật. Origami truyền thống Nhật Bản có thể là để phục vụ lễ nghi, như noshi (triều Muromachi 1392–1573).     Tuy nhiên việc sắp xếp các lá thư, xếp giấy để gói các đồ vật… hẳn là đã có từ rất xưa. Đến thời kỳ phong kiến với nhiều lễ giáo hơn, nền văn hóa xếp giấy đạt đến bước phát triển nhảy vọt. Vào thời điểm đó, Origami đã không chỉ là trò chơi của trẻ em mà còn là thú vui của người lớn, và có rất nhiều tạp chí ra đời với những mẫu xếp giấy vô cùng phức tạp. Nhắc đến Nghệ thuật xếp giấy không thể không nói đến giấy. Từ khi phương pháp chế tạo giấy lần đầu tiên được tìm ra ở Trung Quốc và phát triển dần trong khoảng năm A.D. 105 - 700, công nghệ sản xuất giấy lan rộng sang các nước thuộc địa và du nhập vào Nhật vào thế kỉ thứ 7. Từ đó người Nhật đã áp dụng và biến đổi nhiều phương pháp chế tạo cũng như nguyên liệu chế tạo giấy, hình thành hẳn một văn hóa giấy với vật liệu giấy phong phú, chất lượng cao (gấp mở nhiều lần không rách, mềm, bền và đẹp…. Đó chính là loại giấy mà người Nhật vẫn tự hào có một không hai trên thế giới với cái tên “Washi”). Sản sinh từ nền văn hóa độc đáo này là bộ môn nghệ thuật vẫn được biết đến với cái tên Origami. Các cuộc nghiên cứu của các nhà khảo cổ không cho ra được chính xác thời điểm hình thành của Origami. Tuy nhiên việc xếp các lá thư, xếp giấy để gói các đồ vật… hẳn là đã có từ rất xưa.Đến thời kì phong kiến với nhiều lễ giáo hơn, nền văn hóa xếp giấy đạt đến bước phát triển nhảy vọt. Từ những bức tranh cổ còn được lưu truyền thì vào những năm 1700, Hạc (oritsuru) và các loại thuyền là những vật phổ biến được gấp và trang trí. Từ đó cho đến khỏang 100 năm sau các cuốn sách chuyên môn về Origami đã được in ấn và xuất bản, chứng tỏ một văn minh xếp giấy đã đạt được đến trình độ cao, đa dạng. Vào thời điểm đó, Origami đã không chỉ là trò chơi của trẻ còn mà còn là thú vui của ngừoi lớn, và có rất nhiều tạp chí ra đời với những mẫu xếp giấy vô cùng phức tạp. Trong khi đó, vào khỏang thế kỉ 12 khi phương pháp chế tạo giấy được truyền sang Châu Âu, và một nghệ thuật xếp giấy độc lập đã được hình thành song vẫn không trở thành một nét văn hóa với bề dày về ảnh hưởng cũng như mức độ phát triển như Nhật. Vào thời Minh Trị (Meiji), Origami được đưa vào các trường mẫu giáo thành một môn học dưới ảnh hửơng về phương pháp giáo dục của nhà giáo dục học người Đức Frebel (1782-1852). Các phương pháp xếp giấy của châu Âu cùng sự phát triển theo nhiều hướng khác nhau đã khiên cho nghệ thuật xếp giấy ngày càng phong phú. Chỉ ở thời Meiji đã có rất nhiều những tác giả vô danh tạo ra nhiều mẫu hình mới. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng chỉ gấp theo những mẫu có sẵn không không mang tính sáng tạo nên vào thời Đại chính(Taisho) khi giáo dục đựoc đưa theo hướng sáng tạo thì Origami bị bỏ rơi.     Tuy nhiên lật lại bề dày lịch sử của Origami, cùng với hiện tại,với không ít những tác phẩm mới, tính chất giáo dục của Origami cũng đã được xem xét lại và được công nhận về khả năng phát triển một cách đa dạng. Và ngày nay origami đang mở rộng tầm ảnh hưởng ra tầm thế giới, không chỉ giới hạn là một thú vui mà còn được nghiên cứu phục vụ cho các mục đích khoa học khác bởi nhiều tổ chức và cá nhân. Có thể nói Origami cũng như nhiều từ tiếng Nhật khác như Sake, Shushi, Kimono… đã được quốc tế hóa để khi nhắc đến ai cũng hiểu đó là một đặc trưng của văn hóa Nhật, không lẫn vào đâu được. Và dù bây giờ nghệ thuật xếp giấy đã phát triển vượt biên giới, mang lại niềm say mê cho biết bao nhiêu người trên toàn thế giới, nhưng người ta vẫn trân trọng gọi nó bằng cái tên giản dị Origami như một sự tưởng nhớ đến cái nôi cho một sự hình thành và phát triển một môn nghệ thuật độc đáo. Tác dụng của Origami đối với tâm lý Origami là một nghệ thuật nhẹ nhàng tỉ mỉ. Nó đã chứng minh trong rất nhiều trường hợp có tác dụng làm êm dịu thần kinh, chữa bệnh mất ngủ và chống stress. Nhiều bác sĩ và chuyên gia vật lý trị liệu đã dùng origami như một liệu pháp bổ ích vật lý và tinh thần. Bác sĩ Ronald S. Levy, tại Hội Thảo Quốc Tế lần thứ nhì về origami đối với giáo dục và trị liệu, đã kêu gọi dùng origami dể phục hồi chức năng và trị liệu về tay. Với nhiều người, Origami là thứ giải trí rất hữu hiệu, đặc biệt khi sáng tác một mẫu mới: tự do bay bổng, tự do tìm kiếm một thứ gì đó, mang màu sắc của riêng mình. Khi tự tay hoàn thành một mẫu khó, hay tự tay sáng tác một mẫu hay, thì cảm giác thật vui thích. Origami với toán học Việc tạo được mẫu origami mới liên quan đến rất nhiều quy tắc hình học. Không phải ngẫu nhiên mà các cao thủ origami sáng tác được những mẫu phức tạp. Các cao thủ origami có phương châm "bạn nhìn thấy gì, tôi tưởng tượng được; bạn tưởng tượng gì, tôi gấp được." . Việc gấp giấy đem lại nhiều nhận thức hình học, và cả hình học trừu tượng: nhận biết hình tam giác, hình vuông, hình lục giác, tia phân giác một góc, đoạn thẳng, các đường nét, hình không gian, các khối 3 chiều...  


Nét đặc sắc văn hóa Tết ở Nhật Bản

Nhật Bản là cường quốc công nghiệp phát triển đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) và là nước châu Á đầu tiên đã mở cửa du nhập văn hoá, văn minh phương Tây ngay từ năm 1868 với công cuộc cải cách duy tân mang tên Thiên hoàng Minh Trị (Meiji). Tuy nhiên, Nhật Bản ngày nay vẫn nổi tiếng là quốc gia chú trọng gìn giữ và phát huy những nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó phải kể đến bản sắc độc đáo của văn hóa Tết..   Do ảnh hưởng văn hoá phương Tây nên người Nhật từ lâu đã không đón Tết Nguyên Đán theo thời gian âm lịch như Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á khác. Cũng vì ảnh hưởng văn hoá phương Tây nên người Nhật hiện đại, nhất là lớp trẻ rất quan tâm đến một số ngày lễ lớn có khởi nguồn từ phương Tây nhưng đã du nhập sang Nhật Bản và được “Nhật hoá”, đồng thời tồn tại, giao thoa cùng với nhiều lễ hội văn hoá truyền thống khác của người Nhật. Minh chứng rõ nhất, chỉ tính riêng tháng 1 dương lịch, trong khi người Việt chúng ta còn đang bình thản với tháng Chạp cuối năm âm lịch thì người Nhật đã hối hả, sôi động trong không khí vui đón các ngày lễ hội lớn nhất của năm cũ sắp qua và năm mới bắt đầu đến. Đó là Lễ Noel (25/12 của năm cũ), Tết Nguyên Đán đón năm mới dương lịch diễn ra suốt cả những ngày đầu năm, Lễ Thành nhân (15/1). Sự đồng thời diễn ra liên tiếp các lễ hội lớn nhất này càng khiến cho bầu không khí “Tết” ở Nhật Bản rất sôi động và có cơ hội kéo dài suốt gần cả tháng trời kể từ trung tuần tháng 12 năm cũ đến trung tuần tháng 1 năm mới.     Điều đặc biệt như đã đề cập là bên cạnh sự giao thoa, ảnh hưởng sắc thái văn hoá phương Tây, song do là nước châu Á nên văn hóa Nhật Bản nói chung và văn hóa Lễ hội, văn hóa Tết nói riêng từ nhiều thế kỷ qua cho đến nay vẫn còn ảnh hưởng cả sắc thái văn hóa Trung Hoa. Khi quan sát, nghiên cứu về từng lễ hội hàng năm của Nhật Bản, ta sẽ thấy văn hóa Lễ hội Nhật Bản mặc dù thấm đậm màu sắc của Thần đạo ( Shinto giáo ) là Quốc đạo, Quốc giáo của người Nhật, nhưng vẫn đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ đạo Phật ( Phật giáo ) với các triết lý sống khởi nguồn từ các bậc thầy Nho giáo của Trung Quốc: Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Tử… Ở Nhật ngày nay mặc dù là nước công nghiệp hiện đại song vẫn lưu giữ truyền thống hoà hợp tâm linh của con người đối với Thần, Phật và lòng biết ơn sâu sắc đối những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng. Đó cũng chính là nền tảng của bản sắc văn hóa truyền thống Nhật Bản đã thể hiện rất rõ trong hầu hết các phong tục, tập quán, lễ hội của người Nhật, trong đó phải kể đến các phong tục, tập quán, lễ hội đã diễn ra trong dịp Tết Nguyên Đán vui đón năm mới. Khi tìm hiểu văn hoá Tết của người Nhật Bản, chúng ta có thể thấy rất rõ một số nét đẹp truyền thống cơ bản sau: - Để chuẩn bị đón năm mới, trong nhũng ngày cuối năm cũ, các gia đình Nhật Bản đều có tập quán dọn dẹp nhà cửa, trang trí kadomatsu trước cổng và shimekazari trên cửa ra vào và bàn thờ. Kadomatsu được làm từ cành thông cùng tre và mai để đón Thần năm mới; còn shimekazari có ý nghĩa đuổi quỷ trừ tà. Bánh dày năm mới kagamimochi được bày trên tokonoma là góc trang trọng nhất trong nhà, được coi là chỗ ngồi của Thần. Bánh này được làm từ loại gạo nếp mà người Nhật cho rằng mang hồn của cây lúa. - Từ lâu, trong tâm linh người Nhật đã coi Tết Nguyên Đán được bắt đầu từ khi họ làm Lễ đón Giao thừa - thời điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới bắt đầu từ 24 giờ ngày 29 hoặc 30 hoặc 31/12 dương lịch tuỳ theo năm đó là năm thiếu, đủ hay thừa (nhuận ) ngày, cho đến 1 giờ ngày 1/1 dương lịch. Ba ngày đầu từ mồng 1-3/1 được coi là 3 ngày đặc biệt, thiêng liêng nhất của Tết Nguyên Đán. Tập quán từ ngày xưa là không làm việc trong 3 ngày này. Ngày nay, phần lớn các cơ quan công sở đều nghỉ làm, các cửa hàng dịch vụ thương mại cũng đều đóng cửa cho tới hết mồng 3. Tuy nhiên truyền thống này cũng đang thay đổi nhiều trong cuộc sống đương đại bởi sự xuất hiện của nhiều cửa hàng Am/Pm (24/24 h) phục vụ quanh năm không nghỉ; và trên thực tế do sự giầu mạnh của nền kinh tế Nhật Bản nói chung và từng gia đình người Nhật nói riêng nên xu hướng nhu cầu kéo dài Tết để hưởng thụ những ngày vui vẻ, thư giãn sau một năm lao động căng thẳng đã gia tăng phổ biến trong nhiều tầng lớp cư dân Nhật. Điều đó khiến cho, chỉ trừ một số cơ quan, công sở, ngành, nghề do nhiệm vụ quy định chặt chẽ nhất nhất phải thực hiện nghiêm kỷ luật lao động, không thể kéo dài Tết; còn đa số người Nhật đều có tâm lý mong được kéo dài Tết cho đến qua ngày Lễ Thành nhân 15/1. - Theo phong tục, tập quán từ xưa, tại các gia đình và nhiều năm qua của thời đương đại kể cả tại nhiều cơ quan , công sở, công ty, cửa hàng… đều đặt kadomatsu trước cổng ra vào từ những ngày giáp tết cho đến hết ngày mồng 7/1. Mọi người đều ăn mặc đẹp, đến đền chùa làm lễ hatsumode đầu năm. Để mặc kimono, các phụ nữ Nhật đều phải búi tóc theo kiểu truyền thống rất cầu kỳ. Dịp đầu năm, do các tiệm làm đầu đóng cửa hoặc thường có lịch hẹn trước dày đặc, nên nhiều người có khi phải làm từ ngày hôm trước và giữ tóc qua đêm khiến mất ngủ, nhưng không ai phàn nàn mà trái lại vẫn rất phấn khởi, thanh thản vì đã có được mái tóc truyền thống như ý. Ở các đền thờ, khi đến làm lễ, người Nhật thường mua mũi tên trừ ma quỷ gọi là hamaya để gắn kèm vào kadomatsu trước cổng nhà; và cũng tại các đền thờ đó, họ có thể tùy tâm xóc quẻ rút lá số xem bói bản thân, gia đình năm đó. - Sáng mồng 1 Tết, các gia đình đều làm lễ đón mừng năm mới ( Oshogatsu ). Đầu tiên là rượu mừng năm mới otoso trừ tà khí trong năm đó và để kéo dài tuổi thọ. Theo nghi thức, lần lượt từng người bắt đầu từ người ít tuổi nhất quay mặt về hướng đông và uống rượu sake. Mọi người dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Tiếp đến là món ăn ngày Tết osechi sau khi cúng Thần năm mới. Tục lệ mừng tuổi cho trẻ em hoặc tặng quà giữa những người thân trong gia đình hay trong dòng họ, bạn bè cũng được tiến hành kể từ sau Lễ đón Giao thừa năm mới. Riêng với việc tặng quà hoặc bưu thiếp chúc mừng năm mới trong các mối quan hệ mang tính đối ngoại giữa các cá nhân với nhau; cá nhân với một tổ chức cơ quan, công ty; cơ quan, công ty với nhau… thông thường đều được thực hiện từ những ngày cuối năm cũ giáp Tết và kể cả trong những ngày Tết, có thể bằng tặng trực tiếp hoặc qua bưu điện. Điều đáng lưu ý, theo phong tục, tập quán lưu truyền từ trước thì việc tặng quà hay mừng tuổi ngày Tết ở Nhật Bản không bị “nặng nề” vì giá trị vật chất mà chủ yếu mang ý nghĩa tinh thần, tình cảm, đạo lý ứng xử… Tuy nhiên, càng những năm gần đây, do chủ nghĩa thực tế, thực dụng ngày càng phát triển cũng đã làm biến đổi dần sang kiểu tặng quà, mừng tuổi phải tính toán “nặng nề” hơn về giá trị vật chất, tính kinh tế thị trường do đó ngày càng lấn sâu hơn vào tính văn hoá của việc tặng quà, mừng tuổi ngày Tết. - Năm mới đến, người Nhật với quan niệm “vạn sự khởi đầu nan”, bắt đầu mọi việc bằng tâm trạng mới, tìm về sự tĩnh tại, thanh thản của tâm linh để hướng về Chân, Thiện, Mỹ bằng việc đi lễ ở các đền, chùa với ý nghĩa vừa là để xin Thần, Phật cho sức khỏe, tài, lộc, hạnh phúc… vừa là dịp tham quan, thư giãn, thưởng ngoạn các nơi danh thắng, di tích lịch sử-văn hoá. Một hoạt động khác cũng được coi là một trong những nét đẹp văn hoá đầu năm mới của người Nhật, đó là việc khai bút. Người Nhật dùng bút lông, mực tàu viết những chữ có nghĩa tốt đẹp đầu năm mới. Trẻ em thường viết chữ hatsuhinode(bình minh đầu năm) hay shinshun (xuân mới). Cũng như nhiều nước châu Á khác, trong những ngày Tết, trẻ em Nhật là đối tượng được sự quan tâm nhiều nhất của mỗi gia đình và cả xã hội. Các cháu đều được nhận tiền mừng tuổi và mặc những bộ quần áo mới… Trong ngày Tết, trò chơi truyền thống của trẻ em là chơi quay, thả diều, chơi hanetsuki (giống như cầu lông)… Tuy nhiên, theo nhịp sống đương đại, giờ đây những trò chơi này đã không được bọn trẻ ham thích bằng các trò chơi điện tử như game, internet và nhiều trò chơi hiện đại khác. - Một nét đẹp đặc trưng khác của văn hoá Tết Nhật Bản không thể không nhắc đến, đó là các món ăn ngày Tết - được coi là tiêu biểu cho văn hoá ẩm thực của người Nhật. Trước hết, phải kể đến sashimi và sushi là hai món ăn cá sống nổi tiếng nhất và cũng phổ biến nhất khi nói về ẩm thực Nhật Bản. Sashimi là món ăn được chế biến hoàn toàn từ các hải sản tươi sống, còn sushi là món ăn bao gồm hai phần: một miếng cơm trộn với dấm và một miếng hải sản sống. Cả hai món này đều được chế biến theo một phương pháp cổ truyền có khoảng hơn 150 năm nay và các hải sản đều phải tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm. Thứ hai, osechi là những đồ ăn ngon được chuẩn bị với các món nấu, món trộn dấm, món nướng làm từ các loại hải sản, thịt gia súc, gia cầm và các loại rau với hương vị và màu sắc phong phú có thành phần dinh dưỡng hợp lý, được xếp trong một hộp sơn hình khối chữ nhật trong đỏ ngoài đen. Osechi được chế biến bằng các nguyên liệu thực phẩm theo phương pháp có thể để lâu trong cả tuần nhằm làm giảm lao động nội trợ của phái đẹp trong những ngày Tết. Điều thú vị khác ở osechi là mỗi loại nguyên liệu cấu thành đều mang một ý nghĩa riêng hàm chứa lời chúc một năm mới nhiều may mắn. Ví dụ: cá tráp mang ý nghĩa may mắn; rong biển với nghĩa vui mừng; đậu - mạnh khỏe; trứng cá trích – con cháu đông đúc; ngó sen – nhìn xa trông rộng; rau mắc – sinh lộc; tôm - tượng trưng cho sự trường thọ. Ngoài osechi còn có một món ăn khác cũng không thể thiếu trong ẩm thực Tết của người Nhật, đó là món zouni – món nướng thường gồm rau, cá, thịt gà cho vào nước sốt cùng với bánh dày. Người ta tỉa các nguyên liệu thực phẩm theo hình cánh hoa, nhuộm màu, sau đó đem bày ra bàn tiệc rất cầu kỳ và hấp dẫn để mừng đón năm mới. Bánh dày năm mới ( kagamimochi ) của từng vùng cũng đều khác nhau, ví dụ: vùng Tây Nhật Bản làm bánh hình tròn, nhưng vùng Đông Nhật Bản lại làm bánh hình vuông. Ngoài một số món ăn truyền thống cơ bản trên, tùy theo sở thích của từng gia đình Nhật, người ta có thể thêm các món khác theo kiểu ẩm thực Trung Hoa, Hàn Quốc hoặc kể cả các món ăn Âu, Mỹ. Về đồ uống, tuỳ theo mỗi gia đình cũng rất phong phú, đa dạng; có thể là các loại rượu, bia nhập ngoại, nhưng thường thì không thể thiếu rượu sake và một vài loại bia có thương hiệu nổi tiếng của Nhật như Ashahi, Sapporo, hay Kirin … - Ngày mồng 7/1 – ngày thứ bảy của Tết Nguyên Đán trong quan niệm của người Nhật đó là tiết bảy loài hoa quả. Trong một năm có nhiều tiết, được coi là những mốc đánh dấu sự thay đổi của thời tiết và được người Nhật kỷ niệm những tiết này. Tiết bảy loài hoa quả là một trong năm tiết điển hình có trong năm. Trong ngày này, người Nhật ăn cháo nấu bằng 7 loại rau, quả để cầu sức khỏe. Người Nhật cho rằng cháo cũng là bài thuốc chữa được nhiều bệnh. Cháo nấu bằng rau, quả tươi sẽ có tác dụng tốt đối với dạ dày sau khi phải làm việc nhiều để tiêu hóa những món ăn quá nhiều dinh duỡng trong những ngày Tết. - “ Làm vỡ ” bánh dày ( kagamibiraki ) là tục lệ được người Nhật tiến hành vào ngày 11/1. Bánh dày hình gương tượng trưng cho may mắn nên người Nhật không cắt mà “ làm vỡ “ bằng búa. Bánh dày vỡ ra được nấu thành chè với đậu đỏ cũng hàm ý sẽ mang lại những điều tốt đẹp. - Ngày lễ thành nhân ( Seijinnohi ) diễn ra vào ngày 15/1, là ngày làm các nghi lễ trang trọng để công nhận và chúc mừng các nam nữ thanh niên Nhật tròn 20 tuổi trong năm đó, thường được tổ chức tập thể tại các ngôi đền nổi tiếng ở từng địa phương nơi các thanh niên đó cư trú. Vì có Lễ Thành nhân 15/1 nên không khí Tết vẫn sôi động cho đến tận ngày này, nhất là với các nam thanh nữ tú đến tuổi 20 và gia đình, bạn bè, người thân quen của họ. Sau ngày này, mọi người mới thực sự hết Tết và trở lại cuộc sống công việc bận rộn thường ngày.


Núi Phú Sĩ - nét văn hoá Nhật Bản

Nhiều người biết đến Nhật Bản bởi loài hoa Anh đào nổi tiếng thế giới. Cũng có người biết đến đất nước này bởi cái tên "Đất nước mặt trời mọc". Nhưng hiếm ai không biết tới núi Phú Sĩ như một biểu tượng thiêng liêng mang linh hồn và văn hóa của dân tộc này.   Núi Fuji gọi theo âm Hán Việt là núi Phú Sĩ, thuộc tỉnh Shizuoka, cách Tokyo không đầy 100km về phía Tây Nam. Phú Sĩ là ngọn núi lửa cao nhất Nhật Bản (3776m) với hình chóp nón trông rất hùng vĩ. Người ta nói rằng, tên của ngọn núi này bắt nguồn từ động từ thổi bật ra" (fuchi) trong ngôn ngữ của người Ainu. Núi Phú Sĩ đã phun trào ít nhất 10 lần kể từ thế kỷ 18. Cho đến nay gần 300 năm đã trôi qua kể từ lần phun trào gần nhất của nó vào năm 1707. Tro bụi, dung nham tung lên hàng trăm km, che phủ cả Tokyo, đồng thời tạo cho ngọn núi này cái đỉnh chóp tuyệt vời như ngày nay. Diện tích của núi vào khoảng 90.76km2. Lòng chảo phía trong là dấu tích của miệng núi lửa rộng khoảng 500m, sâu 200m. Hiện nay, Phú Sĩ là ngọn núi lửa đã chết, nhưng gần đây vẫn có tin đồn rằng nó có khả năng hoạt động trở lại.     Với người dân Nhật núi Phú Sĩ trở thành "ngọn núi thiêng", "ngọn núi thần" che chở cho nước Nhật, đem đến sự tốt lành, may mắn: thứ nhất Fuji, thứ nhì Naka, thứ ba Nasu. Có nghĩa là, vào đêm mùng một Tết, may mắn nhất là những ngưòi nằm mơ thấy núi Phú Sĩ, thứ nhì là chim ưng,thứ ba là cà tím. Nhiều người sùng bái núi Phú Sĩ đã thành lập một tổ chức tín ngưỡng ngọn núi này gọi là Fuiiko. Việc trèo lên ngọn núi được coi là công việc thiêng liêng mà ai cũng cố gắng được làm một lần trong đời. Những người leo núi thường bắt đầu cuộc hành trình từ buổi chiều, xuyên qua đêm để rồi sáng hôm sau được ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc ở trên núi. Từng đoàn người nối đuôi nhau trong màn đêm, ánh đèn pin rực rỡ tiến thẳng lên đỉnh núi, tưởng chừng như một con rồng khổng lồ đang cuộn mình. Lên đỉnh có 5 đường chính: Kawaguchiko, Subashiri, Fujinomiya, Fuji-Yoshida và Gotemba. Trong khi đi lên đỉnh mất từ 5 đến 9 tiếng thì khi xuống chỉ mất 3 tiếng. Thời tiết có lúc khắc nghiệt, con đường dài khó khăn, hiểm trở, song bước chân tìm về nguồn cội không lúc nào ngơi nghỉ. "Nhật Bản không có núi Phú Sĩ, tựa như nước Mỹ không có "Nữ Thần Tự Do"-người Nhật Bản nói trong niềm tự hào, phấn khởi.   Ngày nay, khí hậu quanh vùng núi rất ổn định. 5 cái hồ lớn ở đây lại càng làm cho cảnh quan ngoạn mục hơn. Hàng năm, núi Phú Sĩ được mở cửa trong vòng hai tháng. Từ ngày 1 tháng 7 người ta làm lễ mở cửa ở núi Gogome thuộc cửa Yoshida. Ngày 31 tháng 8 mọi hoạt động chính thức kết thúc, nhưng trước đó vào ngày 26, 27 lễ đốt la đóng cửa núi đã được tiến hành. Ðây là thời gian có khí hậu lí tưởng nhất ở núi Phú Sĩ. Trên đỉnh núi gió nhẹ, nhiệt độ từ 5oc đến 6oc. MặC dù thời gian mở cửa không nhiều, song hàng năm cũng vẫn lôi cuốn khoảng 25 triệu người Nhật Bản và khách nước ngoài đến tham quan, du lịch ở đây.


Người Nhật hiền hòa hay lạnh lùng?

Nếu các bạn đến Nhật du học thì thứ mà bạn tiếp xúc nhiều nhất hẳn phải là người Nhật rồi. Vậy tính dân tộc của người Nhật như thế nào?Những điều chúng tôi giới thiệu có thể chỉ là cái nhìn còn hạn hẹp và mang tính cá nhân, không phải là người Nhật ai cũng nghĩ giống nhau như vậy nên mong các bạn lưu ý điều này. Phần nhiều sinh viên đến Nhật du học đều trải nghiệm giao thông bằng tàu điện. Ở Nhật, chi phí bảo dưỡng bãi đỗ xe, trạm đổ xăng rất cao nên không chỉ du học sinh mà hầu hết người dân Nhật đều sử dụng tàu điện. Lên tàu, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên về sự yên lặng. Trên tàu điện, đa số mọi người hoặc cầm điện thoại di động, hoặc đọc sách, hoặc ngủ, người nói chuyện rất ít. Đó là bởi “sự lễ độ” trong tính cách của người Nhật. Vì vậy, trên tàu điện hay ở những nơi công cộng, người Nhật thường không gây ồn ào. (Dĩ nhiên, có sự khác biệt tùy từng người)     Ví dụ bạn để quên ví trên tàu điện hoặc xe taxi, khi ấy thông thường thì rất nhiều người coi như mất rồi, không thể tìm lại nữa nhưng ở Nhật, một vài ngày sau rất nhiều khả năng bạn tìm lại được đồ đánh mất vì nhiều người Nhật không lấy đồ mà tốt bụng đem đồ tới trả lại cho nhà ga chẳng hạn. Tôi đã từng 2 lần để quên ví, 1 lần để quên iPhone trên tàu điện nhưng đều tìm lại được. Người Nhật khi ở trên tàu điện mà nhìn thấy người rơi ví thì thường không có ý nghĩ “Cơ hội tốt quá! Lấy luôn thôi!” mà nghĩ “Ôi, người này quên ví mất rồi. Thật không may quá, đem trả giúp người ấy thôi”. Tuy vậy, tính dân tộc của người Nhật không chỉ là các điểm tốt. Nhật Bản là quốc đảo nên dù có lịch sử lâu đời vẫn khó tiếp nhận những ảnh hưởng từ các nước khác. Kết quả là có thể đối người nước ngoài sẽ có ấn tượng về sự lạnh lùng, về một đất nước Nhật không cởi mở. Ở các khu du lịch, không có mời mọc đeo bám lẵng nhẵng mà thay vào đó thậm chí có thể có ấn tượng về sự lạnh lùng của người Nhật. Tuy nhiên, không phải là lạnh lùng mà nói đúng hơn là người Nhật hay ngại ngùng, xấu hổ. Nếu là người đến Nhật du lịch trong thời gian ngắn thì có xu hướng nhận xét về người Nhật theo quan điểm cá nhân thông qua những tiếp xúc trong chuyến đi. Nếu gặp người tốt thì nghĩ “Người Nhật thật tốt bụng, dễ tính”, gặp người xấu lại nghĩ “Người Nhật quả là chẳng tốt chút nào”. Nhưng, các bạn, những người theo dõi chủ đề này là những người có dự định du học lâu dài ở Nhật. Trong thời gian ấy sẽ gặp rất nhiều người Nhật, có người tốt, có người xấu. Qua những sự tiếp xúc gặp gỡ như thế có thể thấy được những những điểm hay, điểm dở của người Nhật, hoặc thậm chí là phát hiện ra những điểm mới về chính đất nước của mình. Chúng tôi đã rất nhiều lần lặp đi lặp lại rồi, nhưng tính dân tộc như đã trình bày ở trên tùy từng người mà khác nhau, chỉ là ý kiến nhận xét mang tính cá nhân, xin các bạn đừng quên.